Bóng trăng bên thềm

Tác giả: khoanhkhacvothuong_hxr (Jackie Văn)
Ngày viết: 18/10/2008

Đôi nét sơ bộ về tỉnh Vĩnh Long

Tỉnh lỵ Vĩnh Long cách thành phố Hồ Chí Minh 135 km về phía bắc theo quốc lộ I, phía nam cách thành phố Cần Thơ 33 km theo quốc lộ I.
Vĩnh Long không có núi đồi, địa hình lòng chảo, trũng ở trung tâm và cao dần về phía bắc, đông bắc và nam đông nam, bị chia cắt bởi nhiều con sông và kênh rạch. Sông Tiền và sông Hậu chảy ra biển Đông qua vùng đất Vĩnh Long nổi lên nhiều cù lao lớn nhỏ: cù lao An Bình, Bình Hòa Phước, Đồng Phú, Quới Thiện (sông Cổ Chiên), Lục Sỹ Thành (sông Hậu),…Đây là những vùng trồng cây ăn trái đặc sản trù phú, dân cư đông đúc, giàu có.
Năm 1732, chúa đời thứ 7 thời Nguyễn là Nguyễn Phúc Trú (1696 – 1738) lập đơn vị hành chánh đầu tiên của tỉnh là Châu Định Viễn, dinh Long Hồ.
+ Năm 1779, đổi thành Hoằng Trấn dinh;
+ Từ năm 1780 – 1805, Vĩnh Trấn;
+ Từ 1806 – 1832, Trấn Vĩnh Thanh;
+ Từ 1832 – 1950, tỉnh Vĩnh Long;
+ Từ năm 1951 – 1954, tỉnh Vĩnh Trà;
+ Từ năm 1954 – 1975, tỉnh Vĩnh Long;
+ Từ năm 1976 – 5.1992, tỉnh Cửu Long;
+ Từ 5 – 5 – 1992 đến nay là tỉnh Vĩnh Long.
(Source: http://www.vinhlong.gov.vn)

Bóng trăng bên thềm

Truyện les Bóng trăng bên thềm

Lời mở đầu

Đây là miền đất xuongrong được sinh ra và lớn lên suốt quãng đời niên thiếu, từng góc nhỏ nơi thị xã nghèo đã gắn liền và trở thành một phần không thể thiếu trong tiềm thức. Nay mạo muội phóng bút viết đôi nét về Vĩnh Long ngày xưa cũ. Có nhiều điều vì còn trẻ dại, tuổi non nớt nên không hiểu rõ về lịch sử, cũng như quá trình phát triển và đời sống người dân ngày xưa. Mong độc giả vui lòng lượng thứ.
Và đây cũng là một cách viết mới mẻ, được xuongrong lần đầu tiên trải nghiệm. Nếu có gì thiếu sót, một lần nữa mong nhận được sự rộng lượng của độc giả. Chân thành cám ơn!

PHẦN 1: CHUYỆN NHÀ ÔNG BẢY

Tỉnh Cửu Long, năm 1990.

Nói đến miền Tây Nam Bộ, người ta lập tức nghĩ ngay đến những cánh đồng lúa xanh mướt đang thì con gái, những cánh cò chao lượn khi chiều tà, và hiển nhiên không thể thiếu những cù lao mượt mà vườn cây ăn quả. Cái danh xưng “thiên đường cây ăn quả” quả thật không ngoa. Đồng lúa rập rờn, vườn cây ngút mắt, người dân quanh năm gắn bó với ruộng đồng, sống đậm tình làng nghĩa xóm. Cuộc sống khi ấy nó nhàn nhã, không phải lắm lo toan. Bước một bước ra tới vườn rau mọc xanh mướt, bước hai bước ra tới bờ sông, buông câu thả vó trong chốc lát đã thấy cá tôm lách chách chụp không ngơi tay. Khát nước, buồn miệng bước dăm bước ra vườn trái cây chín treo lủng lẳng, giỏi nữa thì thoăn thoắt trèo cây hái dừa, nước dừa ngọt lịm mát tận đáy lòng.
Thị xã ngày ấy còn nghèo và hoang sơ lắm. Nhà cửa thưa thớt, cách chừng đôi mét mới thấy một mái nhà, thấp thoáng sau mấy lùm cây. Đường lót nhựa nhưng nhiều đoạn hai bên cỏ mọc um tùm, cỏ lau mọc cao quá đầu người. Mỗi khi mưa xuống thì ễnh ương cóc nhái thi nhau: uênh oang, ồm ộp, buồn đến não lòng. Cuộc sống miền quê hiếm nơi giải trí, chừng 6h chiều trời xâm xấp tối, các quán cà phê mái vách lá tuềnh toàng bắt đầu lên đèn, mở nhạc. Những bóng đèn cà na mờ mờ ảo ảo lập lòe trong bóng hoàng hôn, giọng Chế Linh buồn não nề. Dù mang tiếng thị xã nhưng vẫn thuộc miền quê, mà ở quê thì họ hay ngủ sớm. Mới bảy, tám giờ tối nhà nhà kín cửa chuẩn bị lên giường. Nếu trời mưa càng buồn da diết, cái quê, cái nghèo, cái vắng vẻ quyện vào tiếng hát ru ngủ của Chế Linh càng trở nên đậm đà, gieo vào lòng người cái nỗi buồn man mác không tên.
Miền đất nào cũng vậy, có kẻ nghèo thì phải có người giàu. Kẻ nghèo thì nghèo đến tàn mạt, mà người giàu thì giàu nứt đố đổ vách. Ở thị xã nhỏ hẹp này, đi loanh quanh đụng mặt nhau côm cốp, ai mà không biết bà Hai Kim Cương, bà Ba Hạt Xoàn… Mấy bà nhà giàu cơm no rửng mỡ, chiều chiều mặc bà ba phi bóng láng mướt màu mỡ gà, điệu đàng ngồi xe lôi đi dạo quanh thị xã hóng gió. Đầu, cổ, tay, chân bà nào bà nấy sáng choang, đỏ rực màu vàng và lấp lánh sắc kim cương.
Nằm trong số nhà giàu ấy có nhà ông Bảy. Nói bà Hai, bà Ba mà quên nói ông Bảy hãng rượu Thái Hòa là thiếu sót to lớn. Sau vụ đánh tư sản, gom góp mớ vốn còm, ông Bảy tiếp tục cái nghề làm rượu. Phải thời, trời đãi, chẳng mấy năm vốn liếng lại đầy, và có vẻ nhiều hơn xưa. Ông Bảy mua miếng đất, cất cái nhà đối diện Đất Thánh Tây. Cái nhà hai tấm, rộng thênh thang nằm ngay mặt tiền. Chừng đâu bề ngang bảy mét, bề dài mười lăm mét, chứa được cả hai ba chiếc xe lam chở rượu mỗi chiều.
Nói sơ qua địa danh “Đất Thánh Tây”. Ở miệt quê, người ta không có đường này quận kia như ở Sài Gòn đèn hoa rực rỡ. Muốn đi đâu, lên xe lôi hay nói với người chở: “Tui đi tới chợ Long Châu”, “Tui đi cái góc nhà bà Hai Kim Cương” là tài xế tình tang chở tới. Người ta gọi là “Đất Thánh Tây” đơn giản vì đây là cái nghĩa địa chôn lũ Tây bị bắn chết, chôn luôn lính chế độ cũ. Mảnh đất rộng chừng mấy trăm mẫu, đào chằn chịt để chôn xác người. Nghe đâu chỉ cần đưa cuốc quào quào mấy cái là lộ ngay xương người hoặc những cái xác chưa phân hủy hết. Mấy ông phu khuân vác, chiều chiều ngồi tán dóc bên xị rượu đế, giọng khào khào kể cách đây mấy năm, khiêng xác người đi chôn mà có thằng lính khi chết trái lựu đạn còn ghim giữa lồng ngực. Ngày ấy, đất rộng người thưa, thành ra ma nhát người như rươi. Cái miếng Đất Thánh Tây này đầy rẫy lời đồn, mà ai cũng khăng khăng là mình chứng kiến thật sự. Một đồn mười, mười đồn trăm, nên khi chiều sụp bóng, màn đêm đen đặc bao trùm nghĩa địa, không ai dám bén mảng qua lại. Ma sợ người, câu đó đúng không chưa thấy, chỉ thấy người sợ ma run lẩy bẩy. Đi đêm phải đi thật đông, từ năm, sáu người trở lên, chứ đi một mình ma dấu không còn mạng. Người ta nói đêm đêm, đúng không giờ, nếu đi ngang đó sẽ thấy những bóng trắng phất phơ trên những nhánh cây đa mọc trong nghĩa địa. Nhộn nhịp chẳng khác nào nhóm chợ của người sống.
Nhà bà Tư cách nhà ông Bảy chừng đâu đôi chục mét. Sáng nay bả quảy gánh hàng ra chợ bán, mặt xanh lè tái mét. Bả run run kể với bạn hàng: tối qua đâu chừng mười giờ tối, thằng con bả đi nhậu vẫn chưa về. Thằng trời đánh thánh vật, bỏ mẹ già chờ cửa đêm này qua đêm khác mà đi rượu chè be bét. Nhà bà Tư nghèo lắm, nên tối tối chỉ có ngọn đèn dầu mờ mờ tỏ tỏ để ngay chiếc bàn giữa nhà, không gian càng thêm âm u. Bà Tư nằm thiu thiu ngủ trên bộ ván, nghe tiếng thằng con đập cửa: “Má ơi, mở cửa cho con, con về rồi nè! Má ơi má!” – giọng thằng quỉ lè nhè, tiếng kéo dây xích rổn rảng. Bà Tư lập cập ngồi dậy, trả lời: “Thằng trời đánh, đi giờ này mới về” rồi lóng ngóng cầm cây đèn dầu đi ra mở cửa. Mở cửa, không thấy ai, bả chửi đổng: “Mẹ cha mày, đi nhậu về rồi núp ở đâu, vào mau lên tao đi ngủ”, nhưng không thấy tiếng ai trả lời. Bà Tư bước ra sân, cầm đèn quơ quơ hai bên hiên nhà, chỉ thấy bóng trắng vụt qua rồi biến mất vào rặng bông bụp. Bả hết hồn run rẩy đi vào nhà, đóng cửa rồi lên giường nằm tiếp. Chưa ấm chỗ lại nghe tiếng đập cửa, giọng thằng con lanh lảnh: “Má ơi má, mở cửa cho con, má ơi!” – tưởng lần này thằng con về thật, bà Tư lụm cụm xách cây đèn ra mở cửa, vẫn không có ai. Nhìn quanh quất, có bóng trắng đang phất phơ trên đầu ngọn cây dừa trước nhà. Bả sợ quá, vào thắp nhang lên bàn thờ Phật rồi niệm kinh tới sáng. Trời lờ mờ, vừa tỏ mặt người thằng con bả mới về tới, bả mới biết tối qua bị ma kêu.
Bà Bảy sáng nay đi chợ, nghe đồn râm ran, vội mua ít hoa quả về chưng lên bàn thờ, đốt nhang lầm rầm khấn vái mong Trời Phật phù hộ độ trì cho cả gia đình được bình an. Chuyện đâu lắng xuống được dăm bữa nữa tháng, cả chợ Long Châu lại rộn ràng lên vụ mấy đứa con nít chơi năm mười (trốn tìm) bị ma dấu. Là vầy, chiều chạng vạng, ăn cơm xong tụi nhỏ trong xóm tụ tập lại chơi năm mười. Chơi miết đến sụp tối, ba má từng đứa ra kêu lùa về nhà, kiểm lại thấy thiếu thằng Tèo. Cái thằng loắt choắt mà lanh nhất nhóm, mỗi lần nó trốn là tìm đỏ mắt không ra. Kiếm cả tiếng đồng hồ không thấy, ba má nó bắt đầu lo, đi gõ cửa hàng xóm nhờ tìm kiếm phụ. Mèn ơi, cả xóm rình rang cầm đèn dầu đi kiếm. Kiếm tới hơn chín giờ đêm mà chả thấy thằng nhỏ đâu, mấy ông già bà lão nói coi chừng ma dấu. Kêu ba má nó lấy nhang đèn khấn vái rồi đốt ít giấy tiền vàng bạc. Nhang vừa tàn nữa cây, người ta nhốn nháo khi thấy thằng nhỏ nằm trong rặng dâm bụt gần Đất Thánh Tây, miệng nhét đầy đất sét, bụng cứng ngắt. Ông Chín vội móc họng, đè bụng cho nó ói ra, lấy dầu xoa hai bên thái dương, xoa chân tay cho ấm. Tới nữa tiếng sau thằng nhỏ từ từ tỉnh lại. Nó nói khi nãy đang tìm chỗ núp, có người đàn bà kêu nó vào nhà cho ăn bánh. Nó te te đi theo, người đó cho nó mấy cái bánh in, ngon lắm, nó cứ ăn, ăn tới lúc no kềnh thì không biết gì nữa, tới chừng tỉnh lại mới thấy mọi người bu quanh. Thằng nhỏ coi vậy mà hên, chứ tìm trễ thêm vài tiếng hổng chừng nó tắt thở về chầu ông bà. Từ bữa đó, chừng 6h chiều là nhà nhà đóng kín cửa, giữ rịt con cháu trong nhà không cho đi đâu.
Quay lại nhà ông Bảy. Cái nhà rộng mênh mông, xây theo kiến trúc nữa Tây nữa Ta. Nhà rộng, lầu cao vậy mà chỉ mỗi cái phòng ngủ cho vợ chồng ông. Còn con cháu, người làm thì ngủ ở gác lửng và sân thượng. Ông Bảy có cả thảy năm người con, ba người con gái đầu và hai người con trai bao chót. Con gái thì giống bà Bảy, cô nào cũng sắc nước hương trời. Nhất là cô Hai Oanh, tuổi tròn đôi mươi, đôi mắt đen láy to tròn, mũi cao môi thắm, hàm răng trắng bóng đều tăm tắp, mỗi lần cười khoe đồng tiền duyên khiến bao công tử ngày đêm săn đón. Ông Bảy cưng lắm, giữ kĩ trong nhà, sợ sơ sảy đám đó làm càng. Phải con nhà giàu, trắng da dài tóc, chiều chiều cô Hai Oanh mặc bộ bà ba phi bóng trắng muốt, thoa chút son ngồi trước hiên nhà phe phẩy quạt hóng gió. Trai thị xã được dịp cứ ve vãn như bướm vờn hoa. Chiều nào cô Hai ngồi trước cửa, là chiều đó con đường trước nhà ông Bảy nhộn nhịp kẻ qua người lại. Nụ cười hàm tiếu của cô Hai làm điêu đứng không biết bao nhiêu chàng trai. Nhiều mối đến dạm hỏi nhưng ông bà Bảy chưa ưng. Còn phải đợi kẻ môn đăng hộ đối mới không uổng công ông bà nuôi nấng, dạy dỗ, cho cô ăn học suốt mười mấy năm qua.
Hãng rượu ông Bảy làm ăn ngày càng phát đạt. Chiều chiều lại thấy ông đánh Vespa chở bà Bảy đi dạo vòng vòng, hay đánh chiếc xe hơi – cái thời mà xe đạp còn tính bằng vàng, thì chiếc xe của ông là cả một gia tài, có khi nuôi được một người đến mãn kiếp – chở cả gia đình đi chơi. Xe lướt tới đâu, người ta nhìn theo trầm trồ đến đó. Bà Bảy sang trọng ngồi giữa đàn con, ba cô hai cậu, cô cậu nào cũng bà ba phi bóng, vàng đeo đỏ tay. Nhất là cô Hai, chiếc nhẫn hạt xoàn trên tay, chiếc kiềng nặng trịch trên cổ trị giá mấy cây vàng, chiếu lấp lánh trong nắng chiều. Mấy chàng công tử con nhà giàu tóc tai bóng lưỡng, mặc đồ Tây đánh Cub50 chạy theo, mong nhìn thấy cô đưa tay ngà ngọc vén tóc rồi mỉm cười cho đêm về thao thức tương tư.
Công việc làm ăn càng lớn, ông bà Bảy mướn người làm thuê càng nhiều. Tính sơ sơ năm người hầu theo phục vụ năm đứa con cưng, thì sơ sơ nhân công trong nhà cũng quá hai chục. Mỗi người một khâu. Người súc chai, người khuân vác, người vào rượu, kẻ đóng nút rồi cột dây… phối hợp nhịp nhàng. Có kẻ ăn cơm chiều xong về nhà, cũng có người ngủ lại. Ngủ lại thì thường là hầu gái của năm cô, cậu và mấy anh lực điền, sáng thức sớm để quét dọn từ trên xuống dưới. Lạ một điều, nhà rộng, người cũng đông mà lúc nào không khí cũng lành lạnh, không có vẻ gì là có hơi ấm của người. Lúc mới xây, ông Bảy rước ông thầy phong thủy về coi. Ông thầy đi lên đi xuống, đo đạc trong ngoài rồi phán cái nhà này âm khí nhiều, phải siêng năng cúng bái chứ không khó lòng ở yên. Siêng năng cúng bái là thế, mà mấy cô làm công đêm đêm ôm nhau cứng ngắt. Vì nghe đâu chừng 12 giờ đêm, cả nhà chìm vào im ắng, thì cái cửa của xe lam chở rượu lại lách tách tiếng chìa khóa mở ra rồi đóng sầm vào thật mạnh. Đêm 16 trăng tròn, bà Bảy cúng cô hồn xong thì vào phòng ngủ. Đêm đó, cả đám người làm ngủ ở gác lửng, nữa đêm giật mình thon thót vì nguyên dãy chai dựng sát tường bỗng dưng đổ sập, miểng văng leng keng. Kẻ đùn người đẩy, không ai dám xuống coi, nhắm mắt nín thở chờ trời sáng. Lạ thay, sáng đi xuống thì nhà cửa sạch trơn, dãy chai đều tăm tắp, không có vẻ gì là bị ngã đổ đêm qua.
Bà Bảy nghe kẻ làm người ở nói ra nói vào, lòng cũng không yên. Sẵn tháng 7, qua rằm, bà đặt con heo quay to để cúng nhà cửa, rồi chia cho đám người làm. Chừng bốn giờ sáng hôm sau, bà giật mình vì tiếng động lạ. Tiếng chân chạy rầm rập trên sân thượng, bà làu bàu: “Tụi này, thức chi mà sớm quá!” rồi quay qua ôm ông Bảy, định ngủ thêm chút nữa. Vừa quay qua ôm chồng, bà hoảng hồn bật dậy, cánh cửa chốt trong đàng hoàng bỗng dưng từ từ mở ra một khoảng đủ rộng, như có ai mở cửa để lú đầu nhìn vào trong, bà vừa bật dậy thì tiếng bản lề kêu cót két, cánh cửa từ từ khép lại vào vị trí cũ. Bà hoảng hồn đưa tay bật đèn ngủ ngay đầu giường, trời còn mịt mù, sương đêm lành lạnh thế mà mồ hôi bà ướt đầm đìa toàn thân.
Đợi ông Bảy cà phê sáng xong xuôi, bà ngồi xuống, châm ly trà rồi kể chồng nghe. Ông Bảy nghe xong, mặt hơi tái, chắc lưỡi:
– Chắc phải mời thầy thôi bà à! Để thế này, coi bộ không yên!
Bà Bảy gật gù: – Ừ, ông nói đúng đó. Tui sợ quá. Rước ông thầy về cho yên tâm.
Bà Bảy có sở thích chơi tứ sắc, cái trò tiêu khiển của mấy bà giàu có. Ông Bảy biết ý, nên để lót gạch Tây mát rượi trên tầng thượng để cho vợ rủ mấy bà khác lại xập xòe. Bốn bà xòe mỏi tay đến chiều chạng vạng thì nghỉ. Bà Năm, bạn ngồi sòng lâu năm chống đùi đứng dậy, duỗi tay duỗi chân. Tuổi già lắm điều kì quái, đi bộ hay di chuyển một chút lại than đau than mỏi, vậy mà ngồi sòng xòe “quạt” cả ngày lẫn đêm thì bà nào bà nấy lại khỏe phây phây.
– Hôm nay xui quá. Hông chơi nữa chị Bảy ơi, tui về kẻo tụi nhỏ nó lo.
– Chị Năm về chi sớm, ăn bữa cơm chiều với nhà tui rồi về.
– Thôi, mấy hôm nay đi miết hà. Tụi nó cằn nhằn.
– Tui nói thằng Thọ đánh xe chở chị về.
– Chị Bảy, chị thấy cái cooc-xê* của tui đâu hông? Mèn ơi, hồi nãy tui cởi ra để ngay chân mà.
– Đâu, tui thấy đâu. Chị kiếm coi.
– Nhìn nãy giờ mà hông có thấy. Chèn đét, kì vậy ta?
Bà Năm vừa nói, vừa bước ra ban công ngoài sân thượng để tập vài động tác giãn gân cốt. Bà Năm mới bước ra chưa đầy phút, lập cập bước vào. Bà Bảy đang ngồi đếm tiền, hoảng hồn đứng dậy bước tới:
– Sao vậy chị? Sao tự dưng mặt mày xanh lè vậy nè? Trúng gió hả? Để tui kêu sấp nhỏ rót ly trà gừng cho chị uống.
– Chị… chị… chị Bảy ra đây coi.
Bà Bảy không biết chuyện gì, cũng vội bước ra. Bà rụng rời tay chân khi nhìn thấy chiếc cooc-xê úp sát, dính cứng ngắt trên tường nhà đối diện như thể bị dán bằng keo, không hở một khoảng trống. Hai cái bầu ngực, hai sợi dây căng cứng không khác đang được mặc trên người, xung quanh không một chiếc đinh hai móc. Hai bà tái mét dìu nhau vào trong, ngồi bệt trên chiếc chiếu hoa, bà Năm run run cất tiếng:
– Thôi chị Bảy, bỏ đi chị. Coi bộ, mà thôi, tui về chị Bảy ơi. Bỏ đi chị!
– Mèn ơi… sao mà… – bà Bảy líu lưỡi.
Đèn măng-xông lập lòe, ông Bảy ngồi cứng người khi nghe vợ kể. Hồi lâu sau, rít hơi thuốc, ông lên tiếng:
– Thôi, để mai tui xuống Long Hồ mời ông thầy lên.
Nói là làm, sáng hôm sau ông đánh xe đi sớm. Chừng nắng qua sào thì về tới. Ông thầy đi khắp nhà, xong ngồi chiêu ngụm trà, ông nhờ ông Bảy mua giấy hồng điều và một con gà trống, một thúng giấy tiền vàng mã. Người làm mua về tới, ông sai cắt cổ, lấy tiết gà để trong chén nhỏ, rồi thắp ba nén nhang, đốt ít giấy tiền vàng bạc rồi bưng thúng tiền âm phủ vừa đi vừa rải khắp nhà. Đoạn, quay về bàn, nhúng bút lông vào chén tiết đã hòa với rượu trắng, vẽ lên giấy điều những dòng loằng ngoằn. Ngậm rượu vào miệng, ông thầy phùn phèo phèo thấm vừa ướt lá bùa, xong gói vào tờ giấy vàng mã có phủ nhũ vàng, xong kêu ông Bảy dẫn lên sân thượng. Leo ba cái cầu thang đến nơi, ông thầy đứng bắt ấn, niệm lầm rầm, rồi sai ông Bảy bắc cái thang treo mảnh bùa trên nóc nhà ngay chỗ ông chỉ, rồi từ giã ra về, dặn nếu không yên thì cứ cho người đánh dây thép, ông sẽ tự lên và tìm cách khắc chế.
Miếng bùa treo lên, nhà yên ổn đôi chút. Nhưng không quá con trăng, ngay chỗ đó xuất hiện hiện tượng lạ. Ngay chính chỗ treo bùa kéo đườg vuông góc xuống sàn nhà, mấy miếng gạch bắt đầu nhô lên, tịnh không vết nứt, ngược lại còn phập phồng như bụng người đang thở. Có cái thằng người làm, ngày trước chuyên đi bốc mã kiếm tiền sống lay lắt qua ngày, được bà Bảy thương tình nhận làm chân súc chai. Thằng này trời đánh thánh vật, bán trời không mời thiên lôi. Nó hay kể chuyện ma hù tụi con gái trong nhà. Nó không sợ trời, không sợ đất, chỉ sợ thiếu tiền uống rượu hàng ngày. Bữa đó, bà Bảy gọi nó lại, cho ít tiền rồi bảo lên trên lầu xem xét. Nó lên nhìn quanh quất, có luồng gió lạnh thổi qua, nó rờn rợn dọc xương sống. Ma sợ nó, chứ nó đời nào sợ ma. Nó cầm theo cái nồi với cái chày, hơi lạnh người là nó gõ cái beng ầm ĩ cả nhà. Lò dò đi tới chỗ gạch bị mô lên, nó lấy chân khều khều, thấy mềm nhũn, nó nhảy lên nhún nhún mấy cái rồi vọt thẳng xuống nhà báo bà Bảy hay.
– Bà ơi bà, cái chỗ đó nó mô lên như đàn bà có chữa ba, bốn tháng. Mà mềm xèo, phập phồng như bụng người ta thở.
Bà Bảy toát mồ hôi lạnh. Phất tay kêu nó xuống làm việc. Đoạn đánh dây thép, mời ông thầy ngày mai lên coi lại miếng bùa. Càng lúc bà càng thấy không yên tâm. Lúc ông Bảy chọn miếng đất này, bà đã can. Ngày coi đất, bà đi chung mà người uể oải, trong lòng thấp thỏm không yên. Nhưng ông đã quyết thì bà không cách nào can ngăn, chỉ khuyên chồng nên cúng bái thật nhiều trước khi động thổ xây nhà.
Ngày hôm sau, ông thầy lên tới, cũng vừa lúc đó thằng Thọ chạy vào thưa:
– Bà ơi, thằng Chí nó gãy hai chân rồi.
Ông bà Bảy nhảy nhỏm:
– Trời, sao vậy?
– Dạ, nó đi nhậu đêm, không biết bị ai xô té mà gãy hết hai chân.
Ông bà nhìn nhau, rụng rời.
Ông thầy đốt nắm nhang, vừa đi vừa khấn, lên tới nơi xem xét cẩn thận rồi xuống bàn với ông Bảy.
– Ngộ hỏi cái lày, nị nói thật ngộ nghe, dồi ngộ mới giúp lị được.
– Dạ, thầy cứ nói.
– Cái nhà của nị, âm khí lặng lắm. Dới lại, hình như lúc nị xây nhà, bị ếm.
– Thầy nói cái gì? Bị ếm?
– Uh, ngộ hổng có nói chơi. Hồi nãy coi ở chển, cái chỗ nó bự lên là bị ếm, chứ hổng chỉ là ma đâu.
– Mà sao tự dưng…
– Ngộ nghĩ, chắc tại lúc nị cất cái nhà, cái thằng mà coi thợ đó, ló đòi nị cho thêm tiền mà nị hổng cho, nên nó ếm. Mấy cái lày thất đức lắm, hổng hiểu sao người ta lại làm.
– Thầy, thầy giúp dùm tui. Tui đội ơn thầy lắm.
– Thấy nị thiệt cái tình, ngộ cũng hổng có dấu. Cái bùa lày nó cao tay. Phải từ từ mới hết. Chứ kêu ngộ cho nó hết liền, ngộ hổng có làm được.
– Dạ, muôn sự nhờ thầy.
– Tối nay ngộ ở lại nhà nị. Nị đi mà chuẩn bị: một con gà trống, ba thúng giấy tiền vàng bạc, một mâm cơm cho nó đàng hoàng, nhang đèn đầy đủ, giấy hồng điều và một con chó mực. Nhớ chưa?
– Dạ nhớ, tui sai sấp nhỏ đi mua liền.
Hôm sau, vừa đúng ngọ, ông thầy bước tới bàn được bày biện sẵn đồ cúng, đốt một bó nhang, miệng lầm rầm khấn vái. Chén tiết gà hòa với rượu đế đặt cạnh cây bút lông và sấp giấy hồng điều. Ông thầy khấn tới đâu, giấy tiền vàng mã đốt phừng phừng tới đó. Còn hai thúng, ông thầy sai một thằng rải kín trước sân nhà, một thúng đi rải đều từ trên lầu xuống dưới đất. Đoạn, ông chấp bút, vẽ một lá bùa mới. Ngậm rượu đầy họng, ông phun phèo phèo lên đầu con chó mực, làm con chó hoảng hồn la ăng ẳng. Ông dùng que nhỏ bẻ từ cây tằm ăn, vẽ vời gì đó lên lưng con chó rồi kéo dây dẫn nó lên lầu. Cúng kiến gần một tiếng đồng hồ mới xong.
Ông dặn ông Bảy cột con chó trên đó, tới khi nào đất xẹp xuống bằng phẳng mới thôi. Tối đó, con chó sủa ầm ĩ cả đêm. Tiếng sủa rồi gầm gừ dữ dội như thể ai đang đứng trước mặt. Non con trăng, gạch xẹp xuống phân nữa, thôi phập phồng. Người làm trong nhà ít thấy hoặc nghe tiếng động lạ.
Chú thích:
*cooc-xê: áo ngực

Bóng trăng bên thềm
1 (2) votes

Viết Bình Luận

Bình luận với lời lẽ khiếm nhã sẽ bị "ban"/block IP vĩnh viễn

<--ads bottom-->